Cảm Nghĩ Của Riêng Tôi

Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại là tổ chức đang duy trì sự hiện diện chính thức của văn học Việt Nam trong hệ thống PEN quốc tế. Một đại diện duy nhất cho Việt Nam, kể cả trong nước và hải ngoại

Trong hoàn cảnh lịch sử nhiều biến động của dân tộc, Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại không chỉ là một tổ chức văn học mà còn là một nhịp cầu nối kết giữa văn học Việt Nam với cộng đồng văn chương thế giới thông qua PEN International.

Sự hiện diện liên tục của tổ chức này đã góp phần duy trì tiếng nói độc lập của người cầm bút Việt Nam, bảo tồn những giá trị văn hóa dân tộc và gìn giữ ký ức lịch sử qua nhiều thế hệ.

Chính vì vậy, Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại là một tài sản tinh thần quý báu của cộng đồng người Việt Tự Do, xứng đáng được trân trọng, bảo vệ và tiếp tục phát triển.

Không chỉ là nơi quy tụ những người yêu văn học, tổ chức còn là cầu nối giữa quá khứ và tương lai, giữa quê hương và hải ngoại, giữa bản sắc dân tộc và các giá trị phổ quát của tự do, nhân phẩm và quyền được cất lên tiếng nói của mình.

Sau hơn nửa thế kỷ tồn tại và phát triển, Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại đã trở thành một mái nhà chung của những người cầm bút yêu tự do, một nơi gìn giữ tiếng Việt, văn hóa Việt và những giá trị nhân bản của dân tộc trong môi trường lưu vong và hội nhập.

Vì vậy, tất cả những ai còn quan tâm đến tương lai của nền Văn Học Việt Nam Tự Do, xin hãy cùng chung tay góp sức gìn giữ và phát triển tổ chức này. Đó không chỉ là trách nhiệm của riêng những người cầm bút mà còn là bổn phận của những ai trân quý di sản văn hóa dân tộc và quyền tự do tư tưởng.

Mỗi sự đóng góp, dù lớn hay nhỏ, đều là một viên gạch bồi đắp cho ngôi nhà văn học chung của người Việt. Để từ đó, Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại tiếp tục vững bước trên hành trình phụng sự văn chương, bảo vệ tự do sáng tác, kết nối các thế hệ và ngày càng phát triển bền vững trên mọi lĩnh vực hoạt động, xứng đáng với niềm tin và kỳ vọng của cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới.

Với tất cả lòng trân trọng, cá nhân tôi, Lê Tuấn (Tế Luân), xin chân thành cảm ơn quý vị trong Ban Chấp Hành Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại qua các thời kỳ. Dù trong cương vị Chủ tịch hay bất cứ chức vụ nào, quý vị đã dành nhiều tâm huyết, thời gian và công sức để xây dựng, gìn giữ và phát triển tổ chức trong suốt những năm qua.

Những đóng góp thầm lặng nhưng bền bỉ ấy đã góp phần duy trì một mái nhà chung cho những người cầm bút Việt Nam yêu tự do, đồng thời bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, văn học Việt Nam nơi hải ngoại.

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính chúc quý vị luôn dồi dào sức khỏe để tiếp tục đồng hành cùng Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại trên chặng đường tương lai rực rỡ phía trước.

Trân trọng

Lê Tuấn

Trong dòng chảy lịch sử đầy biến động của dân tộc Việt Nam, văn chương chưa bao giờ chỉ là tiếng nói của cảm xúc cá nhân, mà còn là ký ức tập thể, là lương tri của một thời đại. Khi đất nước đi qua những khúc quanh nghiệt ngã, vai trò của người cầm bút càng trở nên hệ trọng.

Ba bài viết như 3 luận án tiến sĩ, thật đáng ngưỡng mộ.

Chỉ mong sao không có sự hiện diện của những nhóm chữ sau 1975 mà sách vở báo chí Việt cộng thường dùng, đại khái như “cảnh báo”, “dòng chảy”, “rào cản” vân vân.

Chắc quý anh chị cũng nhận thấy cái ngô nghê của nhóm chữ “dòng chảy”, “rào cản”:    dòng thì không lẽ đứng mà không chảy, và rào nếu không dùng để cản thì làm gì! 

Rất mong quý anh chị thông cảm. Biệt xứ gần 50 năm và tâm nguyện không về VN nếu còn cộng sản, tôi rất dị ứng với những nhóm chữ (việt cộng gọi là “cụm từ”!) sinh ra như nấm sau 1975. Nếu quý anh chị thấy chuyện dùng mấy nhóm chữ đại loại như thế không hề gì thì tôi xin lỗi vậy.

Vũ Đình Trường.

Vụ Trần Trường[1][2][3] hay sự kiện Trần Trường,[4][5] còn được báo chí Anh ngữ gọi là vụ Hi-Tek (tiếng Anh: Hi-Tek incident)[6][7] hoặc vụ biểu tình chống Hồ Chí Minh năm 1999 (tiếng Anh: Anti-Ho Chi Minh protests of 1999) là một chuỗi sự kiện biểu tình diễn ra tại Little Saigon, Quận Cam, California vào đầu năm 1999 nhằm phản đối việc ông Trần Văn Trường treo cờ đỏ sao vàng của nước Việt Nam cùng chân dung Hồ Chí Minh trước cửa tiệm của mình.[8][9] Đây được xem là vụ biểu tình lớn nhất trong lịch sử người Việt tại Hoa Kỳ

Tôi không beí6t ông Vũ Đình trường là ai? Tuy nhiên tôi xin cảm ơn ông vì ông đã làm cho tôi phải nhìn lại bài viết của mình, để rồi tôi khẳng định rằng ngôn từ sử dụng trong bài viết rất trong sáng, không có từ ngữ nào, như ông Trường chụp mũ (từ ngữ Việt Cộng sau năm 1975)

Tôi cho rằng ông Vũ Đình Trường quả thật là đang mang căn bệnh (Dị ứng, hết thuốc chữa) như ông Trường Tự nhận.

Điều ông nêu ra chỉ là một cảm nhận cá nhân về phong cách ngôn ngữ, chứ không phải một lập luận ngôn ngữ học có cơ sở vững chắc.

Thứ nhất, cụm từ “dòng chảy” hoàn toàn không phải là sáng tạo của chế độ cộng sản sau năm 1975. Đây là một hình ảnh ẩn dụ đã có từ lâu trong văn chương Việt Nam và cả văn học thế giới. Người ta nói:

  • Dòng chảy lịch sử.
  • Dòng chảy thời gian.
  • Dòng chảy văn hóa.
  • Dòng chảy tư tưởng.

Đó là cách diễn đạt mang tính hình tượng, giúp khái niệm trừu tượng trở nên sinh động hơn. Nếu cho rằng “dòng thì phải chảy nên nói dòng chảy là thừa”, thì cũng có thể suy luận tương tự rằng:

  • “Ánh sáng mặt trời” là thừa vì mặt trời vốn có ánh sáng.
  • “Cơn mưa rơi” là thừa vì mưa tất nhiên phải rơi.
  • “Tiếng chim hót” là thừa vì chim vốn hót.

Nhưng trong văn chương, người viết không chỉ nhằm truyền đạt thông tin mà còn tạo nhạc tính và hình ảnh.

Thứ hai, việc một từ ngữ được báo chí trong nước sử dụng không có nghĩa từ đó trở thành “từ ngữ cộng sản”. Ngôn ngữ là tài sản chung của dân tộc. Nếu một từ đẹp, đúng nghĩa và được sử dụng rộng rãi thì không thể vì một chế độ chính trị nào sử dụng nó mà phủ nhận giá trị của nó.

Ngay cả những từ như:

  • đổi mới,
  • hội nhập,
  • phát triển,
  • cảnh báo,
  • rào cản,

Đều là những từ ngữ phổ thông trong tiếng Việt hiện đại và xuất hiện trong nhiều tài liệu học thuật quốc tế khi được dịch sang tiếng Việt.

Điều quan trọng là ngữ cảnh và nội dung, không phải xuất xứ chính trị

của một từ ngữ. Nói cho dễ hiểu hơn là từ ngữ kèm theo nội dung mang ý nghĩa gì? Theo tôi, ngôn ngữ là tài sản chung của dân tộc. Giá trị của một từ ngữ nên được đánh giá qua sự chính xác, tính biểu cảm và hiệu quả diễn đạt của nó, hơn là dựa trên việc ai đã từng sử dụng từ ấy.

Xin chào ông

Lê Tuấn

Nếu muốn trả lời một cách lịch sự nhưng cứng rắn, ông có thể viết:

Cám ơn anh Vũ Đình Trường đã góp ý.

Tuy nhiên, tôi xin được trao đổi thêm rằng cụm từ “dòng chảy lịch sử” không phải là một từ ngữ xuất hiện sau năm 1975 hay thuộc riêng về hệ thống ngôn ngữ của nhà nước cộng sản. Đây là một hình ảnh ẩn dụ đã được sử dụng từ lâu trong văn chương và nghiên cứu lịch sử để diễn tả sự vận động liên tục của thời gian, xã hội và văn hóa.

Tôi sử dụng cụm từ này hoàn toàn với ý nghĩa văn học và học thuật, không mang bất kỳ hàm ý chính trị nào. Theo tôi, ngôn ngữ là tài sản chung của dân tộc. Giá trị của một từ ngữ nên được đánh giá qua sự chính xác, tính biểu cảm và hiệu quả diễn đạt của nó, hơn là dựa trên việc ai đã từng sử dụng từ ấy.

Dĩ nhiên, mỗi người có những cảm nhận riêng về phong cách ngôn ngữ. Tôi rất tôn trọng sự nhạy cảm của anh đối với những biến đổi của tiếng Việt sau năm 1975. Tuy nhiên, trong trường hợp này, tôi không cho rằng việc dùng cụm từ “dòng chảy lịch sử” là một biểu hiện của ngôn ngữ tuyên truyền hay ảnh hưởng chính trị, mà đơn thuần là một cách diễn đạt đã được chấp nhận rộng rãi trong văn học và nghiên cứu.

Trân trọng.

Riêng đối với câu mở đầu bài biên khảo của ông:

“Trong dòng chảy lịch sử đầy biến động của dân tộc Việt Nam, văn chương chưa bao giờ chỉ là tiếng nói của cảm xúc cá nhân, mà còn là ký ức tập thể, là lương tri của một thời đại.”

Tôi thấy câu này hoàn toàn tự nhiên, trang trọng và phù hợp với văn phong biên khảo. Nếu muốn tránh tranh luận không cần thiết, ông có thể đổi thành:

“Trong tiến trình lịch sử đầy biến động của dân tộc Việt Nam…”

hoặc

“Suốt chiều dài lịch sử đầy biến động của dân tộc Việt Nam…”

Nhưng xét về giá trị văn chương, tôi vẫn cho rằng “dòng chảy lịch sử” là cách diễn đạt giàu hình ảnh và không có lý do gì phải loại bỏ chỉ vì có người gán cho nó một màu sắc chính trị không có căn cứ. Đây là vấn đề thẩm mỹ ngôn ngữ hơn là vấn đề lập trường.

Tôi không biết ông Vũ Đình Trường là ai. Tuy nhiên, tôi xin cảm ơn ông vì góp ý của ông đã khiến tôi nhìn lại bài viết của mình một lần nữa. Sau khi đọc lại cẩn thận, tôi càng tin rằng ngôn từ được sử dụng trong bài viết là trong sáng, tự nhiên và phù hợp với văn phong biên khảo; không có từ ngữ nào có thể bị quy kết là “ngôn ngữ Việt Cộng sau năm 1975” như ông Trường nhận định.

Theo tôi, điều ông nêu ra chỉ là một cảm nhận cá nhân về phong cách ngôn ngữ, chứ không phải một lập luận ngôn ngữ học có cơ sở vững chắc.

Thứ nhất, cụm từ “dòng chảy” hoàn toàn không phải là sáng tạo của chế độ cộng sản sau năm 1975. Đây là một hình ảnh ẩn dụ đã xuất hiện từ lâu trong văn chương Việt Nam cũng như văn học thế giới. Người ta thường nói:

• Dòng chảy lịch sử.
• Dòng chảy thời gian.
• Dòng chảy văn hóa.
• Dòng chảy tư tưởng.

Đó là cách diễn đạt mang tính hình tượng, giúp những khái niệm trừu tượng trở nên sinh động và giàu sức gợi hơn.

Nếu cho rằng “dòng thì phải chảy, nên nói dòng chảy là thừa”, thì cũng có thể suy luận tương tự rằng:

• Ánh sáng mặt trời là thừa vì mặt trời vốn có ánh sáng.
• Cơn mưa rơi là thừa vì mưa tất nhiên phải rơi.
• Tiếng chim hót là thừa vì chim vốn biết hót.

Nhưng trong văn chương, ngôn ngữ không chỉ nhằm truyền đạt thông tin mà còn tạo nên hình ảnh, nhạc tính và cảm xúc.

Thứ hai, việc một từ ngữ được báo chí trong nước sử dụng không có nghĩa từ đó trở thành “từ ngữ cộng sản”. Ngôn ngữ là tài sản chung của dân tộc. Một từ ngữ không thuộc về bất kỳ chế độ chính trị nào. Giá trị của nó nằm ở ý nghĩa, độ chính xác và hiệu quả biểu đạt.

Ngay cả những từ như:

• đổi mới,
• hội nhập,
• phát triển,
• cảnh báo,
• rào cản,

đều là những từ ngữ phổ biến trong tiếng Việt hiện đại và xuất hiện rộng rãi trong các công trình nghiên cứu, học thuật cũng như trong các bản dịch từ ngôn ngữ nước ngoài.

Điều quan trọng không phải là ai đã từng sử dụng một từ ngữ, mà là từ ngữ ấy được sử dụng trong ngữ cảnh nào và chuyển tải nội dung gì. Theo tôi, ngôn ngữ nên được đánh giá dựa trên tính chính xác, tính biểu cảm và khả năng truyền đạt tư tưởng của nó, thay vì dựa trên những suy diễn về nguồn gốc chính trị.

Chúng ta có thể khác nhau trong cảm nhận về phong cách diễn đạt, nhưng không nên vì thế mà vội vàng gán cho một từ ngữ bình thường những ý nghĩa chính trị mà bản thân nó không hề mang.

Trân trọng,

Lê Tuấn

“RẰNG HAY THÌ THẬT LÀ HAY,

NGHE NHƯ NGẬM ĐẮNG NUỐT CAY THẾ NÀO!”

Bên lề chuyện đã rồi, nhưng làm thinh thì có tội trọng tội của một nhân chứng che dấu sự thật.  sự thật văn chương ở đây có nghỉa là dùng cú pháp ngôn từ thêu dệt cho rực rở được gọi là “VĂN CHƯƠNG”

 Nói cách khác, giống như một nghệ nhân họ thấy trong đầu “kiệt tác” về hội hoạ màu sắc; điêu khắc độc đặc hài hoà nguyên tố sống động; hay một công trình kiến thiết lổi lạc… cũng vậy, người cầm bút thoát ra khỏi cái đầu thi văn hào công án ngôn ngữ rực rở “kiệt tác” sáng tạo văn chương.

Sáng tạo văn chương không thể mặc sức thêu dệt cho bằng thích rực rở hay tha hồ “đâm hơi” thấu cáy loạn châu chấu cào cào; khổ đứng khổ ngồi trước vạn sự bất như ý. Văn chương cần hội đủ trình tự mộc mạt của hồn nhiên, chất phát của đang nhiên và tiến hoá của ngẫu nhiên. Là thước đo sáng tạo hội đủ màu sắc âm thanh không nếm mà thấy ngon, không ngưỡi mà thơm lành ý vị cùng hương sắc, không cầu kỳ mà đơn sơ đạm bạc là tất cả có được trình độ kiến thức văn chương. Như vậy, không biết “GIẢI THI VBVNHN” năm 2026 Ban Giám Khảo đã có thang chấm theo tiêu chuẩn như thế nào. Và đã chọn 3 bài dự thi top 3 hàng đầu thì không ra gì cả! Tại sao? Nếu tự do, tự tạo và dự tranh không lằn ranh hay mức đến thì không có vấn đề, nhưng đã là “giải thi văn chương” thì không thể có văn phong rườm rà “REDUNDANT” dư thừa nhắc đi nhắc lại cùng một ý. Và tệ nhất là không mạch lạc “CONNOTATION” đó là bài văn thiếu sự hàm-súc. 

3 bài dự giải thi văn chương năm 2026 không hề thấy được nét sáng tạo. Có chăng chỉ là nhặt thu tài liệu rộng rải trên mạng thêm bớt không hệ thống không thể gọi là văn chương! Đề tài thật rộng rải “VBVNHN làm gì trên xứ người” không quan trọng cho người VIỆT trên thế giới mà rất quan trọng cho dân tộc Việt Nam. Đừng nói khơi khơi VBVNHN là sức mạnh ngòi viết như thế nấy hay thế kia. Mà phải tỏ rỏ như thế nào làm sao và ai trách nhiệm “BẢO TỒN TIẾNG VIỆT” cái trách nhiệm phải gánh vác đương đầu quyết liệt với kẻ thù đang manh động “TRA TẤN NGÔN NGỮ CHỮ VIẾT” làm ung thối tiếng Việt Nam. Có nghe chăng, chình ình trên sách giáo khoa bọn côn dồ trị quốc in ấn phát tán GIÁO DỤC&ĐÀO TẠO lịch sử quốc tặc Hồ Chí Minh? Cưỡng bức giáo trình khũng bố cho học đường trộm cướp giết hại đồng bào. Đừng làm ngơ mà thấy đó, trách nhiệm lớn lao VBVNHN là thành trì trên tuyến đầu VĂN HOÁ VNCH. 

Và mục đích cái “GOAL” của giải thi văn chương là gì cả 3 bài đều quên lãng niềm tự hào rực rở văn chương không đồng hành kiến tạo được bổn phận “LÀM GÌ CHO QUÊ HƯƠNG” Chẵng lẻ văn hay chử tốt, ăn no ấm cật trong một cộng đồng, một tổ chức lu bù nữa thế kỷ “VỦ NHƯ CẨN” hay sao?

Đừng buồn và đừng nổi điên “GET MAD” mà phải “GET EVENT” !

Trân Trọng Cẩn Cáo,

Hoa Biên Cương

PHẢN BIỆN MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH

VỀ GIẢI THƯỞNG VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI 2026.

Sau khi kết quả cuộc thi viết về vai trò của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại được công bố, tác giả Hoa Biên Cương đã có bài viết phê phán cả ba bài đoạt giải. Quyền phê bình là điều chính đáng trong sinh hoạt văn học. Tuy nhiên, phê bình muốn có giá trị phải dựa trên văn bản cụ thể, trên lý luận rõ ràng và trên tinh thần xây dựng.

Điều đáng tiếc là bài viết của Hoa Biên Cương lại thiếu những yếu tố căn bản ấy.

Thứ nhất, tác giả phủ nhận giá trị của cả ba bài đoạt giải nhưng không đưa ra một phân tích cụ thể nào về nội dung, bố cục, lập luận hay dẫn chứng của từng bài. Những nhận xét như “không ra gì cả”, “không hề thấy được nét sáng tạo”, hay “chỉ là nhặt thu tài liệu trên mạng” chỉ là những kết luận cảm tính. Trong phê bình văn học, kết luận mà không có chứng minh thì không phải là phê bình, mà chỉ là sự phủ định chủ quan.

Thứ hai, tác giả dường như nhầm lẫn giữa một bài nghiên cứu – biên khảo với một tác phẩm văn chương hư cấu. Đề tài cuộc thi là “Vai trò của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại”, đây là một đề tài mang tính khảo cứu, lịch sử và văn hóa. Người dự thi phải dựa vào tư liệu, sự kiện, quá trình hình thành và hoạt động của tổ chức để xây dựng luận điểm. Việc sử dụng tư liệu không phải là khuyết điểm, mà chính là yêu cầu bắt buộc của một bài biên khảo nghiêm túc.

Nếu cho rằng mọi bài viết sử dụng tài liệu đều không phải văn chương thì rất nhiều tác phẩm khảo luận nổi tiếng của các học giả Việt Nam và thế giới cũng phải bị loại bỏ khỏi phạm vi văn học.

Thứ ba, tác giả đặt câu hỏi về tiêu chuẩn chấm giải của Ban Giám Khảo nhưng lại không chứng minh được tiêu chuẩn nào đã bị vi phạm. Một cuộc thi văn chương luôn có Hội đồng Giám khảo gồm nhiều thành viên với những kinh nghiệm và chuyên môn khác nhau. Kết quả có thể chưa làm hài lòng tất cả mọi người, nhưng muốn phản bác kết quả ấy cần có những luận cứ cụ thể, chứ không thể chỉ dựa trên cảm giác cá nhân.

Thứ tư, Hoa Biên Cương cho rằng cả ba bài đều không nhấn mạnh đầy đủ nhiệm vụ bảo tồn tiếng Việt và gìn giữ văn hóa Việt Nam Cộng Hòa. Đây là một quan điểm đáng được lắng nghe. Tuy nhiên, đó chỉ là một góc nhìn trong rất nhiều góc nhìn khác nhau về vai trò của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.

Một cuộc thi không thể bị đánh giá là thất bại chỉ vì các tác giả không triển khai đúng theo ý riêng của một người phê bình. Văn học và tư tưởng luôn tồn tại trong tính đa nguyên. Chính sự đa dạng đó mới làm nên sức sống của một tổ chức văn bút.

Điều đáng nói hơn là, nếu Hoa Biên Cương có những ý tưởng sâu sắc về trách nhiệm của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại trước vận mệnh tiếng Việt và văn hóa dân tộc, thì cách đóng góp tích cực nhất không phải là phủ nhận công trình của người khác bằng vài lời phán xét tổng quát.

Cách đóng góp hữu ích nhất là Hoa Biên Cương, hãy viết một bài nghiên cứu hoàn chỉnh, trình bày đầy đủ luận điểm của mình để cùng tham gia đối thoại học thuật.

Trong sinh hoạt văn học, người ta có thể bất đồng quan điểm. Nhưng bất đồng không đồng nghĩa với phủ nhận. Phê bình không đồng nghĩa với đả kích.

Và tranh luận chỉ có giá trị khi nó giúp nâng cao nhận thức chung, thay vì tạo ra những kết luận cực đoan thiếu căn cứ.

Ba bài đoạt giải có thể chưa hoàn hảo. Không có tác phẩm nào hoàn hảo. Nhưng để phủ nhận hoàn toàn giá trị của chúng, người phê bình cần nhiều hơn những lời khẳng định cảm tính.

Điều mà văn học cần là lý lẽ, không phải định kiến; là đối thoại, không phải kết án. Đó cũng chính là tinh thần mà Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại đã và đang theo đuổi trong suốt hành trình hoạt động của mình.

Một người nhận xét

Sau khi đọc bài phê bình của Hoa Biên Cương. Tôi xin góp thêm một nhận xét. Trong bài của Hoa Biên Cương có một nghịch lý khá rõ: ông ấy liên tục phê phán các bài dự thi là “rườm rà”, “thiếu hàm súc”, nhưng chính bài viết của ông lại sử dụng rất nhiều mỹ từ, khẩu hiệu, tiếng Anh xen lẫn tiếng Việt (“GOAL”, “GET MAD”, “GET EVENT”), nhiều câu văn dài, lặp ý và thiếu hệ thống. Một bài phê bình muốn thuyết phục trước hết phải thể hiện được những phẩm chất mà mình đòi hỏi ở người khác.

Nói cách khác, nếu Hoa Biên Cương, muốn chứng minh ba bài đoạt giải yếu kém, người phê bình có nghĩa là chính Hoa Biên Cương, phải viết được một bài mạnh hơn.

Đó mới là thước đo công bằng nhất trong đời sống văn học.